Tử vi 2024: Đáp án đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn 2024 tỉnh Lai Châu

Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn 2024 tỉnh Lai Châu

Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2024 – 2025 trên địa bàn tỉnh Lai Châu được tổ chức trong 2 ngày (26 và 27/5/2024). Bài thi vào lớp 10 môn Văn Lai Châu theo hình thức tự luận, thời gian làm bài 120 phút.

Đề thi vào lớp 10 môn Văn năm 2024 - 2025 Lai Châu

Đáp án đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn 2024 tỉnh Lai Châu

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1.

Đoạn trích trích từ tác phẩm: Chiếc lược ngà

Tác giả: Nguyễn Quang Sáng.

Câu 2.

Thể loại: Truyện ngắn

Sáng tác năm: 1966.

Câu 3.

– Điệp ngữ: cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng cưa.

– Tác dụng.

+ Tạo nhịp điệu cho câu văn.

+ Việc sử dụng điệp ngữ nhằm mạnh vai trò, tầm quan trọng của chiếc lược ngà. Chiếc lược ấy đã giúp ông Sáu vơi bớt đi nỗi ân hận vì đã đánh con, đồng thời cũng thể hiện tình cảm yêu thương con tha thiết của ông.

Câu 4.

Ý nghĩa hình ảnh cây lược:

– Chiếc lược ngà tượng trưng cho tình cha con sâu đậm. Đó là món quà được ông Sáu tỉ mỉ, kì công chế tác. Ngắm chiếc lược, ông Sáu nguôi ngoai nỗi ân hận vì đánh con, càng nhớ con và mong gặp con.

– Chiếc lược ngà gợi nhắc sự éo le, đau thương mà chiến tranh mang lại. Chiếc lược ngà là lời hứa trong lúc chia ly, là di vật ông Sáu gửi lại cho đồng đội trước lúc “nhắm mắt đi xuôi”.

– Chiếc lược ngà tượng trưng cho ngọn lửa truyền thống, nối tiếp nhau giữa các thể hệ. Bé Thu lớn lên trở thành cô giao liên dũng cảm, tiếp nối sứ mệnh của cha. Khi bác Ba trao lại chiếc lược ngà cho bé Thu, ở họ trỗi dậy tình cảm giống như tình cha con.

=> Như vậy, chiếc lược ngà biểu trưng cho sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trong hoàn cảnh éo le, khốc liệt của chiến tranh, với những tình cảm tốt đẹp, bình dị, thiêng liêng, bất tử.

II. Làm văn

Câu 1

Các em có thể tham khảo: dàn ý nghị luận về tình cảm gia đình chi tiết nhất từng mục mà các em cần có để viết được một bài văn nghị luận về tình cảm gia đình hay

Có thể phả triển như sau:

Tình cảm gia đình: Là tình cảm xuất phát từ những người thân trong gia đình với nhau. Đây là thứ tỉnh tình cảm thiêng liêng, gần gũi nhất của mỗi con người. Tình cảm gia đình thường được biết đến qua tình cảm của cha mẹ, ông bà với con cháu và ngược lại.

* Vai trò của tình cảm gia đình:

– Tình cảm gia đình là thứ tình cảm đầu đời của mỗi con người, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, cảm xúc và góp phần tạo nên một con người.

– Tình cảm gia đình tạo nên chỗ dựa vững chắc về mặt tâm lý cũng như tinh thần của con người.

– Tình cảm gia đình là bước đệm, là động lực để con người vượt qua những khó khăn thử thách.

– Tình cảm gia đình đôi khi giúp ngoặt cuộc đời, ..

Bài làm tham khảo

“Khi con thành công, phía sau là bố mẹ. Khi con thất bại, bên cạnh là bố mẹ. Mọi khoảnh khắc quý giá đều có gia đình ở bên.” Khoảnh khắc ấy mỗi người trong chúng ta hiểu hơn về vai trò của tình cảm gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, bởi nên tình cảm gia đình mang vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống, đó là điểm tựa tinh thần vô cùng vững chắc để mỗi người có thể vượt qua được mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Là nơi mà con người có thể tìm thấy niềm tin, tìm thấy sự bình yên, hy vọng để vượt qua mọi rào cản trên bước đường đời. Dù có đi đâu và về đâu, dù công việc có bộn bề đến đâu thì chúng ta đều hướng về gia đình, hướng về những tình cảm giản dị mà thiêng liêng nhất! Gia đình với mỗi người có ý nghĩa thiêng liêng và vai trò đặc biệt quan trọng, là nơi sinh ra, trưởng thành, là cái nôi của tình yêu thương, là động lực cho chúng ta mỗi lần vấp ngã, là nơi ta tìm về để chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn. Nói về vai trò của gia đình, tôi chợt nhớ về những cuộc hội ngộ trong chương trình: “Như chưa hề có cuộc chia ly”. Vì một lý do nào đó, họ đã phải sống xa cách nhau trong rất nhiều năm thế nhưng, gia đình luôn trở thành động lực mạnh mẽ để họ tiếp tục sống, tiếp tục cống hiến và kiên trì với mong muốn có thể một ngày gặp lại những người thân quan trọng với mình. Hay gần đây, chúng ta biết tới câu chuyện về một phòng trọ đặc biệt tại trường đại học Bách Khoa, nơi đó có cậu học trò Tất Minh – cậu bé khuyết tật bẩm sinh với đôi chân bị liệt ngay từ khi sinh ra và bố cùng sống. Vì Tất Minh không thể tự đi lại, bố đã bỏ việc ở quê để lên chăm sóc em và đưa em đi học mỗi ngày. Minh hiểu được nỗi vất vả của bố, em luôn coi đó là động lực để phấn đấu trong học tập và nuôi hoài bão sau này có thể mở công ty riêng, có tiền chăm sóc cho bố mẹ. Câu chuyện của em không chỉ thắp lên trong chúng ta động lực mạnh mẽ vào cuộc sống mà quan trọng hơn, chúng ta hiểu rằng gia đình quan trọng với chúng ta thế nào. Trước mọi chông gai của cuộc sống, tôi vẫn đang nỗ lực một phần vì chính bản thân, một phần vì gia đình. Hiểu về vai trò của gia đình khiến cho tôi có những phút giây sống chậm lại, yêu những điều tưởng như không hoàn hảo mà lại rất hoàn hảo xung quanh. Chúng ta tự hào và hạnh phúc vì có gia đình là động lực lớn lao cho mọi bước ngoặt trong cuộc đời. Hãy trân quý những người thân xung quanh mình, hãy luôn yêu thương và làm những điều tốt đẹp nhất cho gia đình của mình, bạn nhé! Vì chúng mình, mãi mãi chỉ có một gia đình mà thôi.

Câu 2.

a) Mở bài

– Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm

+ Viễn Phương (1928 – 2005) là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước.

+ Bài thơ Viếng lăng Bác (1976) không chỉ là nén hương thơm thành kính dâng lên Bác Hồ kính yêu mà còn là khúc tâm tình sâu nặng của Viễn Phương thay mặt đồng bào miền Nam gửi đến Bác trong những ngày đầu thống nhất.

– Dẫn dắt, giới thiệu 2 khổ thơ đầu: Hai khổ thơ đã bộc lộ tâm trạng nhà thơ khi nhìn thấy hàng tre bên lăng Bác, cảnh vật quanh lăng và đoàn người vào viếng lăng.

b) Thân bài

* Khái quát về bài thơ

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 1976 khi Viễn Phương được vinh dự cùng đoàn đại biểu miền Nam ra thủ đô Hà Nội viếng lăng Bác sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất và lăng Bác vừa được hoàn thành.

– Giá trị nội dung: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sắc của nhà thơ nói riêng và mọi người nói chung khi đến thăm lăng Bác.

* Phân tích hai khổ thơ đầu

Khổ 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác

– “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” -> lời tự giới thiệu như lời tâm tình nhẹ nhàng.

+ Cách xưng hô “con – Bác” thân thương, gần gũi, diễn tả tâm trạng xúc động của người con ra thăm cha sau bao nhiêu năm xa cách.

+ “Con” ở đây cũng là cả miền Nam, là tất cả tấm lòng của đồng bào Nam Bộ đang hướng về Bác, hướng về vị cha già kính yêu của dân tộc với một niềm xúc động lớn lao.

+ Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng” một cách tinh tế -> Cách nói giảm, nói tránh nhằm làm giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát.

=> Bác đã mãi mãi ra đi nhưng hình ảnh của Người vẫn còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, trong lòng dân tộc.

– Cảnh quang quanh lăng Bác:

“…Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.”

+ Hình ảnh hàng tre

Trong màn sương trắng, hình ảnh gây ấn tượng nhất đối với tác giả là hàng tre.

Từ “hàng tre” được điệp lại hai lần trong khổ thơ gợi lên vẻ đẹp đẽ vô cùng của nó.

Phép nhân hóa trong dòng thơ: “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” giúp hình ảnh hàng tre hiện lên càng thêm đẹp đẽ vô cùng.

=> Hình ảnh hàng tre là hình ảnh thực hết sức thân thuộc và gần gũi của làng quê, đất nước Việt Nam; bên cạnh đó còn là một biểu tượng con người, dân tộc Việt Nam kiên trung bất khuất.

+ Thành ngữ “bão táp mưa sa” nhằm chỉ những khó khăn thử thách của lịch sử dân tộc tộc.

+ Dáng “đứng thẳng hàng” là tinh thần đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng vô cùng mạnh mẽ.

=> Niềm xúc động và tự hào về đất nước, dân tộc, con người Nam Bộ, những cảm xúc chân thành, thiêng liêng của nhà thơ và cũng là của nhân dân đối với Bác kính yêu.

Khổ 2: Cảm xúc của nhà thơ trước dòng người vào lăng

– Hình ảnh vĩ đại khi bước đến gần lăng Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân.

+ Cụm từ chỉ thời gian “ngày ngày” được lặp lại như muốn diễn tả hiện thực đang vận chuyển của thiên nhiên, vạn vật mà sự vận chuyển của mặt trời là một điển hình.

+ Hình ảnh “mặt trời”

“mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực : mặt trời thiên tạo, là nguồn sáng của vũ trụ, gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống và ánh sáng.

“mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ sáng tạo và độc đáo: hình ảnh của Bác Hồ vĩ đại. Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh của dân tộc ta.

– Hình ảnh dòng người đang tuần tự tiến vào thăm lăng Bác:

+ Tác giả đã liên tưởng đó là “tràng hoa” được kết từ dòng người đang tuần tự, trang nghiêm bước vào viếng lăng, như đang dâng hương hoa lòng thơm ngát lên Bác kính yêu.

=> Sự tôn kính, lòng biết ơn sâu sắc và nỗi tiếc thương vô hạn của muôn dân đối với Bác.

* Đặc sắc nghệ thuật trong khổ 1, 2

– Cảm xúc dâng trào, cách diễn đạt thật chân thật, tha thiết

– Hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ

– Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng.

– Hình ảnh ẩn dụ – biểu tượng vừa quen thuộc, vừa gần gũi với hình ảnh thực, vừa sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm, tạo nên niềm đồng cảm sâu sắc trong lòng người đọc.

c) Kết bài

– Đánh giá khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của 2 khổ thơ

Bài văn tham khảo

A. Mở bài

Bác Hồ là vị cha già kính yêu của dân tộc ta. Để viết về Bác có lẽ chẳng bao giờ có thể ghi hết được công lao to lớn của Người dành cho dân tộc. Ngay cả sau khi Bác mất, rất nhiều bài thơ hay về Bác đã ra đời. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương.

B. Thân bài.

1. Khái quát:

Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước vừa được thống nhất. Đó cũng là khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được khánh thành, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước là được đến viếng lăng Bác. Tác giả là một người con của miền Nam, suốt ba mươi năm hoạt động và chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ xa xôi. Cũng như đồng bào và chiến sĩ miền Nam, nhà thơ mong mỏi được ra thăm Bác và chỉ đến lúc này, khi đất nước đã thống nhất, ông mới có thể thực hiện được ước nguyện ấy. Tình cảm đối với Bác trở thành nguồn cảm hứng để ông sáng tác bài thơ này.

2. Cảm nhận

a. Khổ 1

* LĐ 1: Mở đầu bài thơ, tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được những tình cảm, cảm xúc của nhà thơ khi lần đầu tiên được ra thăm lăng Bác:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa vẫn thẳng hàng”

Bài thơ được bắt đầu bằng một lời kể hết sức giản dị nhưng chứa đựng trong nó biết bao điều sâu xa. Nhà thơ xưng “con” và gọi chủ tịch HCM là Bác. Đây là cách xưng hô quen thuộc của những người con của vùng đất Nam bộ đồng thời nó cũng gửi gắm biết bao nhiêu tình cảm và nỗi niềm xúc động của nhà thơ. Trong ngôn ngữ của nhân loại thì có lẽ “con” là cách xưng hô thiêng liêng và gần gũi nhất bởi ở đó có cả tình thân máu mủ ruột già. Cách xưng hô của Viễn Phương khiến ta nhớ đến những vần thơ của Tố Hữu:

“Người là Cha, là Bác, là anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

Nhà thơ lúc này giống như một đứa con xa cha lâu ngày, ngay trở về thăm cha với bao nghẹn ngào xúc động. Chỉ với một chữ “con” ấy, người đọc cũng đủ cảm nhận được lòng thành kính và niềm biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với Bác Hồ. và cũng trong câu thơ mở đầu này, nếu để ý người đọc có thể nhận thấy tác giả đã sử dụng BPTT nói giảm nói tránh khi sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng” ở nhan đề bài thơ. Viếng có nghĩa là thắp hương, phúng viếng người đã khuất còn “ thăm” là thăm hỏi, trò chuyện với người vẫn còn sống trên đời. Với cách dùng từ như thế, Viễn Phương đã làm vơi đi những đau buồn, mất mát cho người đọc khi Bác đã không còn. Tuy nhiên không chỉ có thế, lời thơ ấy còn là lời khẳng định Bác sẽ còn sống mãi trong trái tim của mỗi con người VN.

Ra thăm lăng Bác, điều đầu tiên gây ấn tượng cho tác giả là hình ảnh “hàng tre”. Miêu tả hình ảnh này, tác giả viết:

“Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa vẫn thẳng hàng”

Hàng tre trong câu thơ này là một hình ảnh giàu ý nghĩa là gợi nhiều liên tưởng trong lòng người đọc. Đó trước hết là một hình ảnh thực. Đó là rặng tre đằng ngà được trồng bên lăng Bác. Song không chỉ có thế, đây còn là một hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo. Nó làm ta liên tưởng đến những lũy tre xanh mát ở làng quê VN gợi cuộc sống thanh bình yên ả nơi thôn dã. Hình ảnh ấy còn là biểu tượng của con người và dân tộc Việt Nam bền bỉ, dẻo dai, bất khuất, kiên cường. Hàng tre ấy cũng như những con người VN ta dù phải trải qua bao “bão táp mưa sa” thì vẫn “đứng thẳng hàng”. Câu thơ như một lời khẳng định dân tộc ta dù có gian khổ, khó khăn thì vẫn hiên ngãng, kiên cường, bất khuất. Ý thơ có sự đồng điệu với những câu thơ trong bài “Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy:

“Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi đá vôi bạc màu”

Có thể thấy rằng, khổ thơ đầu tiên đã để lại rất nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc. bằng những từ ngữ và hình ảnh chọn lọc, lời thơ cho ta nhận ra niềm xúc động của nhà thơ khi được ra lăng viếng Bác. Đồng thời cũng qua đó ta cảm nhận được lòng thành kính và niềm biết ơn vô hạn của Viễn Phương dành cho Bác Hồ kính yêu.

b. Khổ 2

Và tình cảm ấy lại tiếp tục được thể hiện ở khổ thơ thứ 2 thông qua các hình ảnh ẩn dụ rất đẹp:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Đọc khổ thơ này, người đọc không khó để nhận ra một phép ẩn dụ vô cùng độc đáo. Nhà thơ đã mượn hình ảnh “mặt trời” để nói về Bác Hồ. Nếu như “mặt trời” ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của tự nhiên, tạo hóa, đem nguồn sống và ánh sáng cho vạn vật thì “mặt trời” ở câu thơ thứ hai chính là ẩn dụ cho cuộc đời và sự vĩ đại của chủ tịch HCM. Cũng giống như mặt trời của tự nhiên, bác đã tìm ra con đường đi cho cách mạng Việt Nam rồi soi sáng cho dân tộc ta bước tiếp trên con đường đi ấy. Bác đã đưa đất nước ta từ vũng bùn nô lệ sang một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên của độc lập tự do. Không chỉ có VP, Tố Hữu cũng có những vần thơ viết về Người như thế:

“Người rực rỡ một mặt trời cách mạng

Còn đế quốc là loài dơi hốt hoảng

Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người”

Tuy nhiên nét đặc biệt trong thơ VP là ông còn để cho mặt trời của tự nhiên được ngắm nhìn, chiêm ngưỡng “mặt trời trong lăng”. Phép ẩn dụ kết hợp nhân hóa ấy đã cho ta nhận ra sự vĩ đại và công lao to lớn của CTHCM và cũng qua đó, lời thơ đã khẳng định Bác sẽ còn mãi, sẽ trường tồn bất diệt trong lòng mỗi người dân đất Việt. Lời thơ thật đơn giản nhưng chứa đựng trong đó là cả một tấm lòng. Chúng ta nhận ra trong những câu thơ ấy là tình yêu thương và niềm biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với Bác

Nếu như ở hai câu thơ trên nhà thơ mượn hình ảnh “mặt trời” để nói về sự vĩ đại của bác thì ở hai câu thơ tiếp theo ông lại miêu tả dòng người vào thăm lăng:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Lời thơ được bắt đầu bằng trạng từ “ngày ngày” qua đó diễn tả hoạt động lặp đi lặp lại. Nó cho người đọc hình dung được cảnh tượng mỗi ngày đều có những dòng người vào lăng viếng Bác với nỗi xúc đông nghẹn ngào và niềm nhớ thương vô hạn. Ở hai câu thơ này, VP tiếp tục sáng tạo một hình ảnh ẩn dụ vô cùng đẹp đẽ. Đó là hình ảnh “tràng hoa”. Hình ảnh ấy gợi lên trong ta biết bao nhiêu liên tưởng thú vị. Nó khiến ta nghĩ đến những vòng hoa tươi thắm mà mỗi đoàn viếng thăm đều dâng lên người. Tuy nhiên không chỉ có thế, hình ảnh này còn là ẩn dụ cho những dòng người đang nối nhau vào lăng viếng Bác. Trong đoàn người ấy, có thể có một người con của thủ đô HN, một người từ vùng đất Nam bộ xa xôi, một cụ già, một em nhỏ hay có khi là một du khách nước ngoài. Và trong đoàn người ấy lúc này chắc chắn không thể thiếu nhà thơ. Mượn hình ảnh “tràng hoa” để miêu tả cảnh dòng người vào lăng viếng Bác là nhà thơ đã giúp người đọc cảm nhận được niềm kính yêu, sự ngưỡng mộ của cả dân tộc và của cả nhân loại đối với Bác.

3. Đánh giá:

Như vậy, bằng hàng loạt các hình ảnh ẩn dụ, các từ ngữ chọn lọc và giọng điệu tha thiết, chân thành, 2 khổ thơ đầu của bài thơ “VLB” đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn nỗi xúc động nghẹn ngào, lòng thành kính và niềm biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với Bác. Và cũng qua những vần thơ ấy ta nhận ra Bác vẫn còn mãi trong trái tim của mỗi con người, và của cả dân tộc Việt Nam.

C. Kết bài

Bài thơ tả lại một ngày Viễn Phương ra thăm lăng Bác từ tinh sương đến trưa, rồi đến chiều. Xuyên suốt bài thơ là sự trào dâng của niềm thương nhớ bao la, xót thương vô hạn, được thể hiện qua đầy ắp những ẩn dụ đẹp và trang nhã từ tận cõi lòng của nhà thơ. Chính vì thế, “Viếng lăng Bác” là một đóng góp quý báu vào kho tang thi ca viết về Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc Việt Nam ta.

Related Posts